MENU

Nhà Việt

Phục Vụ

24/24

Email Nhà Việt

[email protected]

Quanh Chuyện Sử Dụng Tiếng Việt Chêm Tiếng Pháp & Anh

blank

blank

blank

Đã từ lâu có nhiều bài viết đề cập đến yếu tố sử dụng tiếng Việt chêm tiếng Pháp. Trong ngôn từ dân gian đã truyền tụng với nhau từ lâu nên trở thành thói quen khi sử dụng. Trong văn học có nhà văn Vũ Trọng Phụng ( 1912 – 1939 ) qua những phóng sự của ông về tình hình xã hội thời đó nên thường dùng tiếng Việt theo âm tiếng Pháp, đôi lúc có chú thích cho rõ ràng. Trải qua tám thập niên dưới sự đô hộ của Pháp nên yếu tố sử dụng tiếng Pháp đã vay mượn với những chữ thường thì, hầu hết là danh từ, lâu ngày thành thói quen và được “ Việt hóa ” điển hình như : “ a-mi-đan ( amygdale ), áo-sơ-mi ( chemise ), áp-phe ( affaire ), ăng-ten ( antenne ), áp-phích ( affiche ), ắc-qui ( accus ), ban-công ( balcon ), ba-lê ( ballet ), bi-đông ( bidon ), bù-loong ( boulon ), búp-bê ( poupée ), bê-tông ( béton ), bia ( bière ), bơ ( beurre ), bu-gi ( bougie ), ca-ve ( cavalière ), cà-vạt ( cravat ), cà-phê ( café ), cà-rốt ( carotte ), cam-nhông ( camion ), cà-rem ( crème ), cốp-xe ( coffre ), cu-li ( coolie ), đi-văng ( divan ), ê-kíp ( equipe ), gác-dan ( gardien ), gu ( goût ), kính-lúp ( loupe ), khăn-xoa ( mouchoir ), lăng-xê ( lancée ), ny-lông ( nylon ), phanh ( frein ), phéc-mơ-tuya ( fermeture ), ru-băng ( ruban ), ra-đi-ô ( radio ), sâm-banh ( champagne ), sếp ( chef ), tắc-xi ( taxi ), túp ( type ), xà-lách ( salade ), xăng ( essence ), xi-măng ( ciment ), xích-lô ( cyclo ), xì-căng-đan ( scandale ), xiếc ( cirque ), xốt ( sauce ), va-li ( valise ) … Theo lối viết trước kia đều có gạch nối với nhau như địa điểm, họ tên … nhưng sau nầy thấy hơi “ nặng nề ” nên bỏ.

Từ nhỏ còn học tiểu học ở quê nhà, có bài thơ về tiếng Pháp và nghĩa tiếng Việt đứa nào cũng học thuộc lòng để khi nào cao hứng xổ ra tràng Pháp Việt. Trong internet phổ biến bài thơ Lục Bát Việt-Pháp rất thú vị:

“ Tiếng Pháp, tiếng Việt giống nhau, Cùng nhau tìm chữ, tìm câu hàng ngày. Mu-soa ( mouchoir ) là cái khăn tay, Buya-rô ( bureau ) bàn giấy, để ngay văn phòng. Savon là cục xà-bông. Ban-công ( balcon ) là chỗ đứng trông trước nhà. Xót-ti ( sortir ) có nghĩa : đi ra. Ve ( vert ) : màu xanh lá, màu là cu-lơ ( couleur ). Beurre : thì có nghĩa là bơ Ăn với ba-gét ( baguette ) : bánh mì đũa que. Chìa khóa còn gọi cờ-lê ( cle ” ) Đốc-tơ ( docteur ) : bác sĩ, kẹo là bòn-bon ( bonbon ) Thịt nguội còn gọi giăm-bông ( jambon ) Quần dài, là păng-ta-lông ( pantalon ), đúng không ? Tóc tém : đờ-mi gạc-xông ( demi garcon ). Phòng khách có ghế sa-lông ( salon làm tóc ) để ngồi. Súp-lơ ( choux fleur ) : bông cải, bỏ nồi. Cùi-dìa ( cuillère ) : thìa, muỗng, xin mời ăn cơm. ! Quả táo còn gọi : trái bom ( pomme ) Dễ thương, hay gọi mi-nhon ( mignonne ), hay dùng. Coát-xăng ( croissant ) là bánh hai sừng. Cà-rem ( creme ) ai thấy cũng mừng, cũng ham. Đặt hàng còn gọi còm-măng ( commande ) Sớp-phơ ( chauffeur ) tài xế, phải ngồi vô lăng ( volant ) Gọi mẹ, thì gọi ma-măng ( maman ) Thường trực là pẹc-ma-năng ( permanent ) nghe bà ! Lối đi qua, gọi cu-loa ( couloir ) Bi-da ( billard ) chơi nhớ, phải chà cục lơ ( bleu ) Người chạy xe đạp điện : cua-rơ ( coureur ) Đồng hồ điện, gọi công-tơ ( compteur ) hã bồ ? Bảo vệ là gạc-đờ-co ( garde de corps ) Áo khoác dài gọi măng-tô ( manteau ) đó mà. Tạm biệt, nói ô-rờ-voa ( au revoir ) Món gà nấu đậu, gọi là la-gu ( ragout ) Chửi nhau nói : mẹc-xà-lù ( merde salaud ) Pê-đan ( pédale ) bàn đạp, rất cần cho xe. Màu da ta gọi màu be ( beige ) Cà-vẹt ( carte verte ) là giấy xe nè, hở anh ? Thắng xe, thì gọi là phanh ( frein ) Cà-vạt ( cravate ) nhớ thắt, để thành … đẹp trai. Pít-xin ( piscine ) là cái hồ bơi. Búp-bê ( poupée ) bé thích, bé ngồi, bé mơ … Buộc – boa ( pourboire ) ám chỉ tiền bo ( tiền tip ) Tích-kê ( ticket ) là vé, ri-đô ( rideau ) là màn. Táp-pi ( tapis ) là tấm thảm sàn. Sinh nhật, nhớ mở nhảy đầm đãng-xê ( danser ) Đầm dài là cái xoa rê ( soirée ) Giuýp ( jupe ) là váy ngắn, nhìn mê không bồ ? Xe hơi còn gọi xe hơi ( auto ) Đờ mi ( demi ) : 50%, bô ( beau ) là đẹp trai. Đúp ( double ) thì có nghĩa : gấp hai. Bưu ảnh, là cạc-pốt-tan ( carte postale ) có hình. Co ( corp ) là để chỉ thân mình. Đề-pa ( départ ) mang nghĩa khởi hành đó nha. Tôi thì mình xưng là moa ( moi ) Còn bạn có nghĩa là toa ( toi ), là mày. Tiếng Pháp Việt hóa, thật hay. Nhưng không hề viết một ngày mà xong. Chỉ mong góp phần hội đồng. Soạn đi soạn lại, vẫn còn nhiều ghê .. Thủ quỹ quen gọi két-xê ( caissier ) Giới thiệu nhà cửa, bởi mê tiền cò ( com : commission ) Bệnh hoạn, a i lại chẳng lo ? Chạy mua thuốc ở tiệm gọi là phạc-ma-xi ( pharmacie ) Màu xám còn gọi màu ghi ( gris ) Cục gơm ( gomme ) để xóa, viết chì để ghi. Con gái tôi, gọi ma-phi ( ma fille ) Đét-xe ( dessert ) tráng miệng, ăn khi tiệc tàn. Nhảy đầm, đẹp nhất điệu van ( valse ). Nhẹ nhàng thanh thoát, chàng nàng mê hồn. Mỗi sáng một phin ( filtre ) cafe ( café ) Bắt đầu thao tác, không hề quên đâu. In-trô ( intro ) : khúc nhạc dạo đầu. Cam-nhông ( camion ) : xe tải, lơ ( bleu ) : màu xanh xanh. Tiệc tùng khui rượu sâm-banh ( champagne ). Sô-cô-la ( chocolat ) đắng, người sành thấy ngon. La-de ( la bière ) uống giống bia lon. Có người không thích, thì ngồi chê bai. Bia ( bière ), bọt, chỉ nên lai rai. Uống nhiều bia quá, hao tài, hao phăng ( Franc ) Tiền thì nhớ bỏ nhà băng ( banque ) Trai gái sắp cưới, gọi là phi-ăng-xê ( fiancé ) Mùa hè nắng gắt thấy ghê, Nhớ đeo găng ( gants ) để bị chê đen thùi. Ăn cơm, ăn xúp ( soupe ), ăn nui ( nouille ). Nhớ chan nước xốt ( sauce ), nhớ mùi rau thơm. Điện tín là tê-lê-gam ( télégramme ) Vợ tôi thì nói ma-phăm ( ma femme ) của mình.

Te-ríp (terrible): là chuyện thất kinh.

Xem thêm: Dụng cụ tập gym, dụng cụ thể hình giá rẻ 2023

Phi-nan (final): kết thúc… mình xì-tốp (stop) đây.

Đặc biệt trong lãnh vực khoa học và trình độ ( nhất là hóa học ), dụng cụ sửa chữa thay thế … đều vay mượn tiếng Pháp rất nhiều. Chỉ sử dụng danh từ, ít khi sử dụng động từ. Có lẽ cách phát âm tiếng Pháp cũng na ná với cách phát âm tiếng Việt nên khi nghe không bị chói tai. Sau năm 1954 ở miền Bắc và sau năm 1975 có nhiều tác phẩm dịch từ ngoại ngữ, tên địa điểm và nhân vật phiên âm theo tiếng Việt, vừa khó nhớ và lạc giọng … khác với những bản dịch thời Nước Ta Cộng Hòa ! Với những tác phẩm dịch từ tiếng Nga mà phiên âm theo kiểu “ xách-cu-ra-đớp ” thì “ bỏ mẹ sa trường ” quân mạc tiếu ! Trong bài viết của Nguyễn Đức Tuấn ở Montreal “ Chữ Việt Gốc Pháp Còn Tồn Tại Đến Ngày Nay ” cho biết : “ Ngày xưa, vì Nước Ta không có chữ, khi tiếp xúc với người Pháp và những khí cụ mới lạ của người Pháp, người Việt phải mượn chữ của Pháp để gọi. Sự mượn chữ này thường là phiên âm nhưng vì tiếng Pháp là thứ tiếng đa âm, muốn biến thành đơn âm, người ta buộc lòng phải cắt chữ thành nhiều vần ( syllable ) để hoặc là lấy trọn hoặc chỉ lấy một phần. Trong quy trình phiên âm, đôi lúc một âm bị đổi khác cho tương thích với cách uốn giọng của người Việt, nhất là những người chưa từng học tiếng Pháp, chưa biết cách phát âm tiếng Pháp … … Hiện tại, trong vốn từ của Nước Ta, ngoài 65 % là từ gốc Hán còn khoảng chừng hơn 400 từ là từ gốc Pháp, những từ này vẫn còn đang được sử dụng khắp nơi, nhiều khi miệng nói ra nhưng bạn không biết mình vừa nói một câu có chữ Pháp trong đó. ”. Thuở nhỏ, thời đi học, có nhiều câu lục bát với “ Pháp Việt đề huề ” ( mượn chữ Collaboration Franco-Annamite, chủ trương của chính quyền sở tại Pháp ở Đông Dương vào đầu thập niên 1910 ) cũng ví von để dợt le. Học thuộc lòng mấy câu proverbs ( ngạn ngữ ) để xổ tiếng Tây với nhau cho le lói nhưng khi vào lớp thầy cô bảo nghiên cứu và phân tích văn phạm thì “ ấm ớ hội tề ” ! Cach nay gần một thế kỷ, bài diễn thuyết về Truyện Kiều của cụ Phạm Quỳnh đọc nhân lễ kỷ niệm ngày giỗ Nguyễn Du vào ngày 8 tháng 12 năm 1924 do Hội Khai Trí Tiến Đức của ông tổ chức triển khai, ông nói : “ Văn chương ta chỉ có một quyển sách mà sách ấy đủ làm cho ta vẻ vang với thiên hạ, tưởng cũng là một cái kỳ công có một trong cõi văn quốc tế vậy ”. Và câu nói : “ Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn ” vẫn được nhắc mãi cho đến thời nay. Điều đáng buồn là Truyện Kiều còn đó mà tiếng nước ta bị “ biến chất ” … Trong những năm qua có những bài biết của những nhà báo, nhà văn … đã đề cập về Tiếng Việt trong và ngoài nước sau năm 1975 như : Đụng Độ Ngôn Ngữ của Dân Việt, Hỏng Rồi Tiếng Nước Tôi ! của Tô Văn Cấp, Tiếng Việt và Chữ Vẹm hay là Chữ Nghĩa Việt Cộng của Lê Duy San, Mặt Trận Ngôn Từ của Đỗ Văn Phúc, Nỗi Buồn Tiếng Việt Của Người Dân Trong Nước của Chu Đẩu ( trong bài viết nầy tác giả dẫn chứng sự độc lạ và kèm theo tiếng Anh ). Đào Văn Bình với 3 bài viết : Nỗi Buồn Tiếng Việt, Tiếng Việt Kinh Hoàng Ở Trong Nước, Bảng Đối Chiếu Tiếng Việt Trước và Sau năm 1975. Bảng so sánh từ ngữ của Việt Cộng và Nước Ta ( theo alphabet ) của Trần Văn Giang … Bây giờ chữ viết cũng bị “ tiết kiệm ngân sách và chi phí ” tối đa, xử dụng ( y dài, i ( ngắn ) loạn xà ngầu, có những chữ viết tắt dễ gây ngộ nhận như vc ( vợ chồng, cs ( ca sĩ ) … Ngày nay, tiếng pháp ít thông dụng ở trong nước. “ Mỹ cút ” nhưng tiếng “ Mỹ ” đã xâm nhập tràn ngập, nói mà không chêm tiếng “ Mỹ ” là thiếu hiểu biết, thiếu văn minh như gái giang hồ thời xưa “ no star where ” ( không sao đâu ), “ no table ” ( miễn bàn ) … ( Trong những tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ có nêu ra loại tiếng Anh ba rọi nầy ). Sau khi “ Mỹ cút ” thì theo dòng thời hạn “ trăm hoa đua nở ” với Hello, OK … tràn ngập cả nước với “ ấn tượng ” đồng Dollar, Mỹ đi thì cất Mỹ kim.

Trong internet cũng phổ biến bài thơ Anh-Việt với những chữ thông dụng:

“ Hello có nghĩa xin chào Goodbye tạm biệt, thì thào Wishper Lie nằm, Sleep ngủ, Dream mơ Thấy cô gái đẹp See girl beautiful want tôi muốn, kiss hôn Lip môi, Eyes mắt … sướng rồi … oh yeah ! Long dài, short ngắn, tall cao Here đây, there đó, which nào, where đâu Sentence có nghĩa là câu Lesson bài học kinh nghiệm, rainbow cầu vồng Husband là đức ông chồng Daddy cha bố, please don ” t xin đừng Darling tiếng gọi em cưng Merry vui thích, cái sừng là horn Rách rồi xài đỡ chữ torn To sing là hát, a tuy nhiên một bài Nói sai thực sự to lie Go đi, come đến, một vài là some Đứng stand, look ngó, lie nằm Five năm, four bốn, hold cầm, play chơi One life là một cuộc sống Happy sung sướng, laugh cười, cry kêu Lover tạm dịch tình nhân Charming duyên dáng, mỹ miều graceful Mặt trăng là chữ the moon World là quốc tế, sớm soon, lake hồ Dao knife, spoon muỗng, cuốc hoe Đêm night, dark tối, khổng lồ giant Fund vui, die chết, near gần Sorry xin lỗi, dull đần, wise khôn Burry có nghĩa là chôn Our souls tạm dịch linh hồn tất cả chúng ta Xe hơi du lịch là car Sir ngài, Lord đức, thưa bà Madam Thousand là đúng … mười trăm Ngày day, tuần week, year năm, hour giờ Wait there đứng đó đợi chờ Nightmare ác mộng, dream mơ, pray cầu Trừ ra except, deep sâu Daughter con gái, bridge cầu, pond ao Enter tạm dịch đi vào Thêm for tham gia lẽ nào lại sai Shoulder cứ dịch là vai Writer văn sĩ, cái đài radio A bowl là một cái tô Chữ tear nước mắt, tomb mồ, miss cô Máy khâu dùng tạm chữ sew Kẻ thù dịch đại là foe chẳng lầm Shelter tạm dịch là hầm Chữ shout là hét, nói thầm whisper What time là hỏi mấy giờ Clear trong, clean sạch, mờ mờ là dim Gặp ông ta dịch see him Swim bơi, wade lội, drown chìm chết trôi Mountain là núi, hill đồi Valley thung lũng, cây sồi oak tree Tiền xin đóng học : school fee Yêu tôi dùng chữ love me chẳng lầm To steal tạm dịch cầm nhầm Tẩy chay boycott, gia cầm poultry Cattle gia súc, ong bee Something to eat chút gì để ăn Lip môi, tongue lưỡi, teeth răng Exam thi tuyển, cái bằng licence … Lovely có nghĩa đáng yêu và dễ thương Pretty xinh đẹp thường thường so so Lotto là chơi lô tô Nấu ăn là cook, wash clothes giặt đồ Push thì có nghĩa đẩy, xô Marriage đám cưới, single độc thân Foot thì có nghĩa bàn chân Far là xa cách còn gần là near Spoon có nghĩa cái thìa Toán trừ subtract, toán chia divide Dream thì có nghĩa giấc mơ

Month thì là tháng, thời giờ là time”

*

Với tuổi già ở Mỹ với thế hệ thứ ba, ông bà mong muốn cháu nội, cháu ngoại nói được, viết được tiếng Việt là là tiếng mẹ đẻ là niềm vui trong gia đình. Vì vậy nơi nào có nơi dạy tiếng Việt cho con em, phụ huynh như tìm được cái phao để tuổi thơ tìm về cội nguồn.

Đối với ông bà, khi những cháu nói “ thưa ông, thưa bà, chào ông, chào bà … ” nghe rất thân thương và mát lòng. Ông bà, cha mẹ khi nào cũng dạy con cháu phải có chữ “ dạ ”, “ dạ có, dạ không … ” rất lễ phép, thay vì vấn đáp “ yes, no ” cụt lủn. Con cái ở gần cha mẹ là niềm niềm hạnh phúc vì gởi trẻ thơ cho ông bà, và hầu hết đều tập bập bẹ tiếng Việt. Khi mang về nhà lại nói và lý giải tiếng Anh để khi trẻ thơ vào preschool ( kindergarten ) khỏi bị kinh ngạc. Khi trẻ thơ bước vào bậc tiểu học ( elementary school ) từ lớp một đến lớp bốn, nếu có anh chị em thì chúng chỉ tiếp xúc với nhau bằng tiếng Anh. Ông bà giao tiếng với cháu cũng chêm tiếng Anh và lý giải để hiểu nghĩa. Hầu như ông bà nào cũng hiền hòa, nhẫn nại với cháu, ngay cả khi kèm homework mà khi làm cha mẹ thì hình như thiếu đức tính nầy với con cái … Vì vậy, đôi lúc cũng có sự thông cảm khi ông bà đưa những cháu đi chơi, vào shopping, đôi lúc phải chêm dăm ba tiếng Anh cho tiện. Nếu ông bà mà nói với nhau nào là cái roll ( cuộn ), jar ( lọ ), bottle ( chai ), bowl ( chén, bát ), tube ( ống ), cái tie ( cà vạt ), cái scarf ( khăn quàng ) … thì “ nghèo ” tiếng Việt ? Học đường ở Mỹ là môi trường tự nhiên tốt và sự giáo dục trong mái ấm gia đình là yếu tố hệ trọng. Người xưa đã khuyên “ Dạy con từ thuở còn thơ ” mà trẻ thơ tiếp đón được sự dạy dỗ nầy từ thuở thơ ấu đến khi trưởng thành là niềm niềm hạnh phúc. Có lẽ cách gọi trong đại gia đình thường thì dạy cho trẻ thơ với ông bà ( grandparents ) như grandfather ( thường gọi granddad hoặc grandpa ), grandmother ( thường gọi granny hoặc grandma ) nhưng khi nghe Ông Nội, Bà Nội, ông Ngoại, Bà Ngoại … cảm thấy thật dễ mến, thân mật vô cùng. Thử tưởng tượng hình ảnh đứa trẻ khi gặp cúi đầu “ Chào Ông Nội ” với hình ảnh giơ tay “ Hi, Grandpa ”, tuy lễ phép nhưng cái còn, cái mất trong tâm thức tuổi hạc. Với cha mẹ ( parents ) thì thường gọi cha là dad, daddy thay vì father và mẹ là mom thay vì mother vì trẻ nhỏ khi học ở trường, cha mẹ thường liên lạc với thầy cô và con cháu nên thông dụng. Và, từ mái ấm gia đình cũng tác động ảnh hưởng phần nào ngoài xã hội. Trong bài viết của cô Ngọc Lan về hiện tượng kỳ lạ tiếng Anh-Việt trong mái ấm gia đình dẫn chứng câu “ Ai đông ke ”, “ Tui đông ke ” nghe mà xấu hỗ. Thật ra mấy chữ nầy cho dân ba búa, thất lọc lúc tranh cãi với nhau. Cô Ngọc Lan còn trẻ nhưng dám viết trên mặt báo như vậy cũng là điểm son Với tôi, trong yếu tố tiếp xúc, việc xử dụng ngôn từ tiếng Việt lẫn tiếng Anh phải tùy lúc, tùy nơi, tùy trường hợp, tùy đối tượng người tiêu dùng … Nếu biết nhận chân và ý thức thì tốt. Thành ngữ ta có câu : “ Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ ”. Ông bà ta cũng dạy dỗ qua câu “ Học ăn, học nói, học gói, học mở ” trở thành câu tục ngữ nói về những điều cơ bản trong đời sống mà con người ta phải học để có được cách ăn ở, tiếp xúc, cách đối nhân xử thế sao cho nhã nhặn, tế nhị, văn minh.

Bài viết cũng khá dài… hẹn dịp khác.

Little Saigon, July 10, 2021

Vương Trùng Dương

Source: https://suanha.org
Category : Dụng Cụ

Alternate Text Gọi ngay
Liên kết hữu ích: XSMB