MENU

Nhà Việt

Phục Vụ

24/24

Email Nhà Việt

[email protected]

Cách cân bằng rối loạn toan kiềm

Rối loạn cân bằng kiềm toan thường dựa trên các nguyên nhân gây ra rối loạn kiềm toan. Cách cân bằng rối loạn này như sau:

  • Đối với nhiễm toan hô hấp

Việc điều trị nhiễm toan hô hấp đa phần là vô hiệu nguyên do gây bệnh, cải tổ thông khí phế nang cũng như cung ứng oxy và thở máy nếu thiết yếu .

Một số trường hợp cần đặt nội khí quản khẩn cấp nhưng phải dựa vào dấu hiệu trên lâm sàng, không được chờ kết quả khí máu. Bởi trong thời gian chờ đợi kết quả khí máu nếu người bệnh kèm theo triệu chứng khó thở, ngạt, tăng công hô hấp thì chỉ làm nặng thêm tình trạng bệnh hơn.

  • Nhiễm kiềm hô hấp

Cân bằng rối loạn kiềm toan do nhiễm kiềm hô hấp bằng cách điều trị nguyên do gây ra bệnh. Đồng thời phối hợp việc trấn an bệnh nhân, cho người bệnh tự thở lại khí CO2, dùng thuốc an thần nếu cần và thở máy .

  • Nhiễm toan chuyển hóa

Điều trị nhiễm toan chuyển hóa ban đầu là tìm và điều trị nguyên nhân gây bệnh. Trong trường hợp nếu toan máu đe dọa tính mạch người bệnh (pH < 7,2 và HCO3- < 15 mmol/l) thì cần phải điều chỉnh một nửa lượng kiềm thiếu bằng bicarbonate. Lưu ý là không nên dùng quá nhiều bicarbonate vì nó sẽ gây tình trạng điều chỉnh nhanh pH máu với nguy cơ bị tetany và co giật, về lâu dài dẫn đến quá tải thể tích và natri máu bị tăng.

Thông thường lượng bicarbonate cần bù tính theo công thức như sau: HCO3- cần bù (mmol) = 0,4 x cân nặng (kg) x (24 – HCO3- đo) (0,4 là tỷ lệ % số dịch có trong cơ thể. 24 là số mmol HCO3- mong muốn đạt được). Tuy nhiên lưu ý là sau khi dùng bicarbonate 5 phút phải đo lại bicarbonate máu, độ pH và nên điều trị triệu chứng bằng lọc thận khi suy thận cấp hoặc suy thận mạn, suy tim nặng và khi điều trị bằng bicarbonate nhưng kết quả thất bại.

  • Nhiễm kiềm chuyển hóa

Tương tự như các phương pháp trên, việc điều trị nhiễm kiềm chuyển hóa chủ yếu là điều trị nguyên nhân gây bệnh. Cụ thể cần điều chỉnh hạ thể tích máu và giảm K+ máu bằng cách truyền NaCl 0,9% để tăng thể tích tuần hoàn, tăng thải bicarbonate. Nếu cần thiết cho kali thì bổ sung thêm KCl.

Tuy nhiên, ở bệnh nhân có chống chỉ định bù thể tích thì nên dùng lợi tiểu acetazolamide ( Diamox ) với liều lượng 250 – 500 mg tĩnh mạch mỗi 6 giờ gây thải bicarbonate qua thận và cải tổ pH. Còn khi hút dạ dày lê dài thì nên dùng thuốc kháng thụ thể H2 để giảm tạo acid dạ dày .
Trong trường hợp kiềm máu nặng kèm giảm thông khí phế nang thì hoàn toàn có thể dẫn đến thực trạng co giật hay ức chế hệ thần kinh. Nếu tính mạng con người người bệnh bị rình rập đe dọa do kiềm chuyển hóa thì cần nhanh gọn kiểm soát và điều chỉnh nhanh, truyền ion hydrogen ở dạng acid HCl loãng qua tĩnh mạch TW. Còn nếu người bệnh bị kiềm chuyển hóa không phân phối với chlore thì điều trị bằng cách bù kali hoặc sử dụng thuốc kháng aldosterone .

Để bảo vệ bảo đảm an toàn, người bệnh cần đến bệnh viện uy tín để thực thi thăm khám và điều trị ngay khi có tín hiệu của rối loạn toan kiềm .

Source: https://suanha.org
Category : Dụng Cụ

Alternate Text Gọi ngay
Liên kết hữu ích: XSMB