Kiềm hô hấp là một tình trạng bệnh lý trong đó việc tăng hít thở dẫn đến tăng pH máu lên trên ngưỡng bình thường (7,35 – 7,45) đồng thời với việc giảm nồng độ CO2 trong máu động mạch. Tình trạng này là một trong bốn nhóm cơ bản của sự phá vỡ cân bằng kiềm-toan.
Có hai loại nhiễm kiềm hô hấp là kiềm hô hấp mạn tính và cấp tính, chúng là hiệu quả của sự gián đoạn năng lực bù điện giải của thận từ 3 đến 5 ngày. [ 1 ] [ 2 ]
Kiềm hô hấp thường Open khi có một số ít tác nhân kích thích khung hình tăng hoạt động giải trí hô hấp. Tăng hít thở dẫn đến tăng trao đổi khí phế nang, thải CO2 ra khỏi tuần hoàn, làm biến hóa cân bằng hóa học động của cácbon dioxide trong hệ tuần hoàn, dẫn đến khung hình phản ứng dựa trên nguyên tắc Le Chatelier. Các ion hydro và bicarbonat vận động và di chuyển trải qua trung gian acid carbonic ( H2CO3 ) để tạo thêm CO2 nhờ enzym carbonic anhydrase theo phản ứng sau :
H
CO
3
−
+
H
+
→
H
2
C
O
3
→
CO
2
+
H
2
O
{\displaystyle {\rm {HCO_{3}^{-}+H^{+}\rightarrow H_{2}CO_{3}\rightarrow CO_{2}+H_{2}O}}}
Bạn đang đọc: Kiềm hô hấp – Wikipedia tiếng Việt
Kết quả ở đầu cuối của việc này là giảm nồng độ ion hydro lưu thông, và do đó làm tăng pH ( kiềm hóa ). Song song đó còn có sự giảm nồng độ calci ion hóa trong máu .
Các triệu chứng của kiềm hô hấp tương quan đến sự giảm nồng độ cácbon dioxít máu, và cộng thêm dị cảm ngoại biên. Thêm vào đó, sự kiềm hóa còn hoàn toàn có thể làm gián đoạn cân đối calci, và làm gây ra những triệu chứng của hạ calci máu ( như là cơn tetany và ngất ) nhưng không có sự giảm nồng độ calci huyết toàn phần. Tuy nhiên, kiềm hóa hô hấp mạn hoàn toàn có thể dẫn đến tăng phosphat máu và hạ calci máu, bằng việc gây kháng hoócmôn PTH ở thận. [ 3 ]
Source: https://suanha.org
Category : Dụng Cụ