Nồng độ ion H + ở dịch ngoài tếbào ( DNTB ) được xác lập bởi cân bàng giữa PCO2 và HCO3. Mối đối sánh tương quan được bộc lộ :
H + ( neq / l ) = 24 x ( PCO2 / [ HCO3 ] ) Bình thường : PCO2 40 mmHg, HCO3 24 mEq / l .
Nồng độ H+bình thường ở máu động mạch là
[ H + ] = 24 x ( 40 / 24 ) = 40 nEq / l
Nồng độ [ H + ] được bộc lộ bằng nanoequivalent. 1 nEq = 1 phần triệu mEq. pH là đơn vị chức năng bộc lộ H + được tính bằng logarith âm 10 của H + được tính bằng neq. Thay đổi của pH tỉ lệ nghịch với đổi khác của H + ( vi dụ pH giảm thì H + tăng ) .
Bình thường pH từ 7,35 – 7,45. Mục tiêu là giữ tỉ lệ PCO2 / HCO3 hằng định
Bảng 1. Các đổi khác tiên phát và thứ phát của acid – base
Các loại rối loạn
Thay đổi tiên phát
Cách bù
Toan hô hấp
tăng PCO2 tăng HCO3 Kiềm hô hấp
giảm PCO2 giảm HCO3 Toan chuyển hoá
giảm HCO3 giảm PCO2 Kiềm chuyển hoá
tăng HCO3 tăng PCO2 Khi pH khu vực ngoài tế bào được giữ không thay đổi thì pH trong tế bào cũng được giữ không thay đổi, khi có các đổi khác tiên phát ( tiên phong ) của PCO2 thì HCO3thay đổi theo và ngược lại .
Bình thường CO2 được sản xuất ra trong khung hình ( khoảng chừng 220 ml / phút ) tương tự với 15000 mmol acid carbonic / ngày. Trong khi những acid không bay hơi do thận và ruột sản dưới 500 mmol / ngày. Bình thường PaCO2 ( khoảng chừng 40 ± 5 mmHg ) được duy trì cân đối đúng chuẩn bởi thông khí phế nang và sản xuất PaCO2 .
Bảng 2. Giá trị HCO3 cần đạt khi có rối loạn toan – kiềm hô hấp
Thay đổi [HCO3– ] được dự kiến đối với các rối loạn toan – kiềm do hô hấp
Rối loạn
HCO3– ( mEq/l)
PaCO2 ( mmHg)
SBE ( mEq)
Toan hô hấp cấp = [ ( PaCO2 − 40 ) / 10 ] + 24 > 45 = 0 Toan hô hấp mạn = [ ( PaCO2 − 40 ) / 3 ] + 24 > 45 = 0.4 × ( PaCO2 − 40 ) Kiềm hô hấp cấp = 24 – [ ( 40 – PaCO2 ) / 5 ] = 0 Kiềm hô hấp mạn = 24 – [ ( 40 – PaCO2 ) / 2 ] = 0.4x (PaCO2 – 40)
Xem thêm: Hủ & Lọ Đựng Gia Vị, Dầu Ăn
Trong các rối loạn toan – kiềm hô hấp, thận bù trừ cho các đổi khác của PaCO2 bằng cách làm tăng nồng độ bicarbonate ( HCO3 – ) huyết tương trong nhiễm toan hô hấp. Các rối loạn toan kiềm cấp chỉgây ra các đổi khác nhỏ trong nồng độ bicarbonate và hệ đệm tế bào chiếm lợi thế. Bù trừ thận mạn tính xẩy ra trong vài ngày tới hằng tuần và gây ra các biến hóa lớn hơn trong nồng độ bicarbonate huyết tương .
Cơ chế bệnh sinh
Bù trừ theo cơ chế hô hấp
Thay đổi H + ở trong máu sẽ được các receptor nhận cảm ở động mạch cảnh trong, ở não ghi nhận. Khi có toan chuyển hóa nó sẽ kích thích mạng lưới hệ thống hô hấp hoạt động giải trí tăng lên và PaCO2 giảm .
Kiềm chuyển hóa không kích thích mạng lưới hệ thống hô hấp hoạt động giải trí, như vậy hô hấp sẽ giảm và PaCO2 tăng lên .Bù qua cơ chế chuyển hoá
Thận tham gia vào điều hòa bằng cách điều chỉnh tái hấp thu HCO3 ở ống lượn gần. Toan hô hấp kích thích tăng tái hấp thu HCO3, kiềm hô hấp thì sẽ ức chế tái hấp thu ( HCO3 giảm ). Tuy nhiên chính sách bù của thận chậm hơn, thường khởi đầu sau 6 – 12 giờ và không thay đổi sau vài ngày .
Bảng 2. Ước lượng đổi khác của acid – base
Thay đổi tiên phát
Các thay đổi bù ước tính
Toan chuyển hoá
PaCO2 = 1,5 x HCO3 + ( 8 r2 ) Kiềm chuyển hoá
PaCO2 = 0,7 x HCO3 + ( 21 r 2 ) Toan hô hấp cấp
‘ pH = 0,008 x ( PaCO2 – 40 ) Toan hô hấp mãn
‘ pH = 0,003 x ( PaCO2 – 40 ) Kiềm hô hấp cấp
‘ pH = 0.008 x ( 40 – PaCO2 ) Kiềm hô hấp mạn
‘ pH = 0,0017 x ( 40 – PaCO2 ) Các qui tắc định hướng phân tích
Ba thông số kỹ thuật cơ bản : pH = 7,35 – 7,45
PaCO2 = 35 – 45 mmHg
HCO3 = 22 – 26 meq / l
Khi các giá trị này vượt ra ngoài số lượng giới hạn thì đều được coi là không bình thườngRối loạn chuyển hoá tiên phát
Qui tắc 1: rối loạn toan kiềm được cho là do nguyên nhân chuyển hoá nguyên phát khi pH và PaCO2 thay đổi cùng chiều.
ví dụ : Toan chuyển hóa nguyên phát : pH2 giảm. Kiềm chuyển hóa : pH > 7,45 và PaCO2 tăng
Qui tắc 2 : rối loạn toan kiềm được cho là nguyên nhân hô hấp khi PaCO2 cao hơn giá trịước tính thì gọi là toan hô hấp, nếu thấp hơn thì gọi là kiềm hô hấp.
Vì vậy khi đã xác lập là có toan chuyển hóa nguyên phát, thì tiếp theo ước tính giá trị PaCO2 xem bù bằng hô hấp. Nếu PaCO2 đo được cao hơn hoặc thấp hơn thi gọi là có rối loạn hỗn hợp .
Rối loạn hô hấp tiên phát
Qui tắc 3: rối loạn acid –base được cho là nguyên phát do hô hấp nếu PaCO2 bất thường và PaCO2và pH thay đổi ngược chiều.
Ví dụ : Toan hô hấp nguyên phát nếu PaCO2 > 44 mmHg và pH giảm .
Kiềm hô hấp nếu PaCO2Qui tắc 4: ước lượng thay đổi pH (sử dụng bảng 2) để xác định rối loạn hô hấp cấp hay mãn tính, và có toan chuyển hoá thêm vào hay không?
Nến pH đổi khác 0,008 lần so với đổi khác PaCO2 thì được gọi là cấp tính ( không bù ). Nếu biến hóa từ 0,003 – 0,008 lần được gọi là bù một phần. Nêu biến hóa 0,008 lần so với PCO2 thi có rối loạn chuyển hóa thêm vào .
Ví dụ : PaCO2đo được là 50 mmHg
Nếu pH giảm xuống còn 7,32 thì được gọi là suy hô hấp cấp vì :
0,008 x ( 50 – 40 ) = 0,08 đơn vị chức năng pH. 7,40 – 0,08 = 7,32 – Nếu pH
Nếu pH từ 7,33 – 7,37 ; gọi là được bù một phần .
Nếu pH > 7,38 thì gọi là mãn tính .Rối loạn hỗn hợp
Qui tắc 5 : gọi là hỗn hợp khi PaCO2 bất thường mà pH không thay đổi hoặc pH bất thường mà PaCO2không thay đổi.
Ví dụ: PaCO2: 50 mmHg và pH: 7,40 gọi là toan hô hấp có bù lại bằng kiềm chuyển hoá.
– Thường gặp ở người bệnh cấp tính và hoàn toàn có thể đoán biết trên các thực trạng lâm sàng .
Sự nhìn nhận kỹ thuật đổi bù trừ của pH, PaCO2 và [ HCO3 ] là thiết yếu. Cần triển khai đo điện giải máu và tính các khoảng trống anion. Điều trị rối loạn thăng bằng toan kiềm phối hợp là điều trị bệnh chính .
Source: https://suanha.org
Category : Dụng Cụ